Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Gốc > Bài viết > Giới thiệu chung >

    BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BA TƠ

               Ba Tơ là một huyện miền núi cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng Ngãi 60km về phái tây nam, huyện có 19 xã và 01 thị trấn với diện tích tự nhiên 1116,35 km2    hơn 93% diện tích là đất lâm nghiệp, địa hình đi lại khó khăn, dân số khoản hơn 6 vạn người trong đó đồng bào dân tộc Hre chiếm trên 83%.Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Ba Tơ một lòng đi theo Đảng làm nên cuộc khởi nghĩa Ba Tơ 11/3/1945  đi vào lịch sử dân tộc và tiếp tục kháng chiến chống Mỹ, giải phóng quê hương mình.Trong hoà bình nhân dân Ba Tơ đã phát huy truyền thống cách mạng của quê hương thực hiện đường lối đổi mới của đảng đi lên xây dựng chủ nghĩa hội cùng với nhân dân cả nước, hướng tới mục tiêu dân giàu,  nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minhNhìn lại chặng đường 5 năm qua (2005 – 2009) và những năm đầu của thế kỷ 21, tình hình kinh tế - xã hội  tuy có phát triển nhưng đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhiều hộ nghèo, một số phong tục tập quán lạc hậu chưa được loại bỏ. Từ thực trạng của tình của hình kinh tế - xã hội như trên có ảnh hưởng đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở địa phương. Hệ thống, mạng lưới trường học ở các cầp học, ngành học đã được  phát triển tương đối hoàn chỉnh nhưng cơ sở vật chất  tuy có tăng cường, song vẫn chưa đáp ứng nhu cầu dạy và học; hiện hầu hết các trường học còn thiếu các phòng chức năng, nhà bán trú cho học sinh và giáo viên, khuôn viên trường học chưa “xanh, sạch, đẹp”; Nhận thức về xã hội hóa giáo dục ở một số địa phương trong huyện chưa được sâu sắc, có nơi còn ỷ lại  nhà nước. Một số lãnh đạo địa phương và một bộ phận nhân dân chưa có sự quan tâm đúng mức đến việc học tập của con em mình.Dưới sự lãnh đạo của huyện Đảng bộ công tác phát triển giáo dục và đào tạo đã đượcquan tâm đúng mức, được đưa vào nghị quyết của các cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân, các ban ngành đoàn thể ... Các chỉ thị về công tác chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở; xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, cùng với Thông báo kết luận số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 của Bộ Chính trị “ về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2,  khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020” đã thổi những luồn sinh khí mới vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo cho nên ở những năm gần đây sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở huyện nhà đã vươn lên đạt những thành quả đáng khích lệ.I. Những kết quả đạt được:1.  Về công tác giáo dục chính trị tư tưởng:Công tác giáo dục chính trị tư tưởng là nhiệm vụ hết sức quan trọng  nhằm tăng cường nhận thức cho cán bộ nhân viên chức nắm bắt kịp thời các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Vì vậy cấp ủy luôn  quan  tâm lãnh đạo, tổ chức sinh hoạt trao đổi thông tin, tổ chức học tập Nghị quyết, các chuyên đề về tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong 5 năm  qua Phòng Giáo dục và Đào tạo luôn chủ động tham mưu cho Huyện uỷ, phối hợp với Ban Tuyên giáo tổ chức học tập các Nghị quyết của Đảng như: Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết XVII của Đại hội tỉnh Đảng bộ, Nghị quyết Đại hội XVI của huyện Đảng bộ, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh …. theo sự chỉ đạo của Huyện uỷ cho toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên  trong ngành với số lượng tham gia quán triệt hàng năm trên 97%.  Do vậy cán bộ, giáo viên, công nhân viên  có nhận thức đúng về đường lối đổi mới của Đảng trong  thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước..Ngoài việc học tập Nghị quyết lồng ghép vào chương trình chính khóa,  Phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các đơn vị trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa như  thi tìm hiểu lịch sử Đảng, tìm hiểu về Pháp luật, Học tập và làm theo tấm gương đạo đức  của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã tạo thêm nhận thức  hiểu biết cho giáo viên và học sinh.2.  Nhiệm vụ trọng tâm: 1.     Về qui mô phát triển trường lớp học:- Số trường: + Mầm non: Năm học 2005- 2006 có: 01 trường, năm học 2009- 2010 có 19trường tăng 18 trường so với đầu nhiệm kỳ.          - Tiểu học: Năm học: 2005 – 2006 có 15 trường,  năm học 2009 -2010 có 20 trường ( trong đó có 4 trường TH& THCS ).           - THCS: Năm học 2005 – 2006 có 01 trường, năm học 2009 – 2010 có 14 trường, tăng 13 trường. -         Số lớp: 
    Tiêu chí Năm học 2005 - 2006 Năm học 2008-2009
    Số lớp:       + MN 31 110
                       + TH 468 261
                       + THCS 32 112
    Số học sinh:+ MN 876 2211
                       + TH 8414 4624
                       + THCS 804 3310
     *Ưu điểm: Qui mô phát triển mạng lưới trường lớp học, số lượng học sinh có tăng lên, nhất là đối với ngành học mầm non và cấp trung học cơ sở. Từng bước đáp ứng nhu cầu học tập trong xã hội, thực hiện qui hoạch mạng lưới trường lớp học theo các Điều lệ trường học đã qui định.*Hạn chế: Mạng lưới trường lớp học đến nay chưa đáp ứng tốt nhu cầu học tập của học sinh, nhất là đối với cấp trung học cơ sở và ngành học mầm non, học sinh đi học còn khá xa trường theo qui định.2. Về chất lượng và hiệu quả giáo dục:Hàng năm, tỉ lệ học sinh bỏ học có chiều hướng giảm, tỉ lệ học sinh trong độ tuổi ra lớp tăng lên. Đến nay, tỉ lệ trẻ 6-10 tuổi đi học đạt 97,47%, tỉ lệ trẻ 11-14 tuổi còn đi học tiểu học 3,28%, tỉ lệ trẻ 11-14 tuổi đi học THCS đạt 82.86%.  Chất lượng giáo dục như sau: 
    Tiêu chí (tỉ lệ %) NH 2005 - 2006 NH 2008 - 2009
    Tiểu học:       +Học sinh giỏi, học sinh tiên tiến  22.9  25.3
          +Học sinh yếu kém 18.7 8.9
    Trung học cơ sở:       +Học sinh giỏi, học sinh tiên tiến  21.2  21.8
          +Học sinh yếu kém 14.8 12.9
     Sở dĩ có được kết quả trên là có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và sự phối hợp từ các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, mặt trận, các hội đoàn thể trong thời gian qua đối với ngành giáo dục.Tuy vậy, hiện nay tình hình học sinh bỏ học vẫn còn xẩy ra, chất lượng giáo dục có bước chùn lại, công tác phổ cập trung học cơ sở của các xã, thị trấn chưa bền vững, những nguyên nhân chủ yếu đó là:-Trong công tác giáo dục còn thiếu sự gắn kết chặt chẻ trong mối quan hệ giữa ba môi trường giáo dục “nhà trường - gia đình - xã hội”.-Sự quan tâm của một số phụ huynh đối với việc học của con cái chưa tốt, còn phó mặc cho nhà trường.-Công tác vận động, tuyên truyền của chính quyền, các hội đoàn thể, mặt trận về ý nghĩa của việc học tập chưa được quan tâm thường xuyên, có làm nhưng chỉ mang tính thời vụ. -Học sinh học yếu từ lớp thấp nên hạn chế tiếp thu ở lớp tiép theo và kiến thức mới, không có sự động viên giúp đỡ kịp thời từ gia đình, nhà trường, xã hội nên sinh ra chán nản bỏ học.- Chương trình nội dung sách giáo khoa hiện tại còn quá tải đối với học sinh.- Một bộ phận học sinh có tính đua đòi từ nhỏ chưa được giáo dục uốn nắn kịp thời, chạy theo những thói hư tật xấu (uống rượu, chơi game, bi - da, cúp cua bỏ giờ ….) dẫn đến học yếu rồi bỏ học.- Bị bạn bè rủ rê đi làm để có tiền tiêu xài cá nhân.- Nạn tảo hôn.- Công tác thi đua khen thưởng, chấp hành pháp luật, kỷ luật chưa được thực hiện triệt để, nghiêm túc. 3. Về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục:     
    Tiêu chí Năm học 2005 - 2006 Năm học 2008-2009
    Số lượng CBGV:    
     +Mầm non 29 134
     +Tiểu học 512 380
     +THCS 25 261
    Tỉ lệ % đạt chuẩn về CMNV:    
     +Mầm non 63.6 99.18
     +Tiểu học 50.0 99.13
     +THCS 100.0 100.0
     Đây là nội dung luôn được quan tâm, hàng năm số lượng đội ngũ không ngừng tăng lên về số lượng và nâng cao về chất lượng chuyên môn nghiệp vụ. Trong những năm qua, với sự quan tâm tăng cường số lượng và chất lượng của các cơ quan chức năng đối với ngành giáo dục huyện Ba Tơ, thì cũng cần nhấn mạnh thêm rằng công tác tự đào tạo bồi dưỡng của mỗi cán bộ giáo viên là không thể phủ nhận, có khá nhiều cán bộ giáo viên do nhiều lý do khác nhau đã không được theo học các lớp hàm thụ tại chức do cơ quan trường học cử đi, đã tự nghiên cứu học tập theo hình thức từ xa để đạt chuẩn và nâng chuẩn cũng như tự rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ tay nghề ngày thêm vững chắc.Tuy vậy, hiện nay  vẫn còn có giáo viên năng lực còn hạn chế chưa được bồi dưỡng kịp thời.4. Thực hiện chủ trương công bằng trong giáo dục:Triển khai thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ giáo viên công nhân viên và học sinh. 5. Đổi mới nâng cao chất lượng về quản lý giáo dục:Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạo, trong những năm qua Phòng Giáo dcụvà đào tạo đã đánh giá cao và coi trọng nhiệm vụ quản lý giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng. Từ nhận thức đó, vấn đề bồi dưỡng cán bộ quản lý có đủ phẩm chất, năng lực cao, đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn mới ở địa phương nói riêng và sự nghiệp giáo dục nói chung luôn được chú trọng. Do vậy hiệu quả quản lý ngày càng được nâng cao. Bên cạnh Phòng Giáo dục và Đào tạo thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, tổ chức tốt các cuộc vận động thực hiện dân chủ hoá trường học, thực hiện phương châm “ Kỷ cương- Tình thương- Trách nhiệm ”. Kết quả đã ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực từ bên ngoài tác động  vào nhà trường. đồng thời cũng phát hiện được các nhân tố mới trong ngành, thúc đẩy phòng trào thi đua Dạy tốt – Học tốt, chọn cử  đượcvà có chất lượng các giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi tham dự các hội thi và đã đạt giải ở các cấp huyện, tỉnh, quốc gia. Hàng năm, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục không ngừng học tập bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý, hiện nay đại đa số cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng được yêu cầu; bên cạnh cũng còn có một vài đồng chí năng lực quản lý còn hạn chế cần tiếp tục bồi dưỡng. -Về tình hình thực hiện xã hội hoá giáo dục:Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, các cấp uỷ Đảng và chính quyền đều thật sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội đã quan tâm cho công tác giáo dục, nhiều xã đã xác định nhiệm vụ về giáo dục và tập trung giải quyết những tồn tại kéo dài, khó khăn cản trở bước đi của giáo dục đó là chống học sinh bỏ học, lưu ban, chóng xuống cấp cơ sở vâth chất nhà trường. UBND huyện thường xuyên chú trọng chỉ đạo UBND các xã, thị trấn tổ chức huy động các nguồn lực trong xã hội: các chương trình dự án, nhân lực tại chổ để tăng cường cơ sở vật chất trường học, nhất là ở các điểm trường lẻ tình trạng phòng học xuống cấp chưa được duy tu bảo dưỡng thường xuyên hoặc có kế hoạch xây dựng mới. Trong những năm qua, công tác xã hội hoá giáo dục đã nhận được sự quan tâm của các cấp các ngành.Nhờ xã hội hoá mà giáo dục huyện Ba Tơ từng bước được củng cố, phát triển và đạt được kết quả đáng khích lệ: Tỉ lệ học sinh bỏ từ trwocs đến nay ngày càng giảm ( hiện nay dưới  1% ), tỉ lệ học sinh được huy động đến trường theo đúng độ tuổi ngày càng tăng, chất lượng giáo dục và đào tạo ngày càng được năng lên. Đội ngũ cán bộ, giáo viên ngày càng tâm huyết với nghề nghiệp, hệ thống trường lớp ngày càng đi vào thế ổn định. 6. Về công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở:  * Kết quả đạt được: 
      Năm 2005 Năm 2009
    Số xã đạt chuẩn PCGDTH-CMC 19/19 20/20
    Số xã đạt chuẩn PCGDTHĐĐT 0/19 20/20
    Số xã đạt chuẩn PCGDTHCS 0/19 20/20
     Đến tháng 12/2008, huyện Ba Tơ đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở.Tuy vậy, công tác phổ cập giáo dục gặp không ít khó khăn, tình trạng học sinh trong độ tuổi phải phổ cập trung học cơ sở bỏ học vẫn còn xãy ra.7. Công tác tăng cờng cơ sở vật chất trường học:Kết quả việc tăng cường cơ sở vật chất trường học: Tổng kinh phí: 2.617.099.898 đồng (không tính nguồn vốn kiên cố hoá, dự án giáo dục tiểu học trẻ khó khăn), trong đó Nhà nước hỗ trợ: 1.656.792.000 đồng, Nhân dân đóng góp: 49.574.898 đồng, Địa phương hổ trợ: 50.900.000 đồng, Các nguồn vốn khác: 1.909.016.000 đồng, trong đó WB: 1.565.946.000 đồng, CĐGD tỉnh: 250.000.000 đồng. Dùng để:          - Xây dựng mới: 12 phòng cấp 4          - Tu sửa lớn nhỏ 16 phòng học;          - Dùng làm những công việc khác: Trang bị 02 phòng thí nghiệm thực hành, 01 bờ kè chống sạt lún dài 200 m sâu 5 m, 05 tường rào cổng ngõ cho 05 trường, 10 phòng ở công vụ giáo viên.Ngoài ra, Dự án Giáo dụcTiểu học trẻ khó khăn đã đầu tư xây dựng: 23 phòng học khép kín (có công trình vệ sinh, phòng đợi giáo viên).-Trường đã đạt chuẩn quốc gia: 02 (TH Ba Động và MN 11/3 Ba Tơ). -Thư viện đã đạt chuẩn theo QĐ 01: 03 (TH Ba Động, Ba Vì, TT Ba Tơ). Thực hiện giải ngân hết nguồn vốn được giao trong năm 2008 để thực hiện chương trình kiến cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên.  II. Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp  giai đoạn: 2010 – 2015:1. Mục tiêu tổng quát:- Củng cố và nâng cao chất lượng tại các trường ở các cấp học. Nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy học;  giáo dục nhân cách,  nâng cao trình độ về ngoại ngữ, tin học cho học sinh, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu nước nồng nàn, tự hào dân tộc, và khát vọng mãnh liệt về xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.          - Đẩy mạnh việc giữ vững và nâng cao tỉ lệ đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Giảm tỉ lệ học sinh lưu ban, bỏ học.          - Phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng chương trình hoạt động, cụ thể:          + Tiến hành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục để có kế hoạch  đào tạo bồi dưỡng đảm bảo bảo đủ số lượng và cân đối về cơ cấu; sắp xếp lại những giáo viên không đáp ứng yêu cầu bằng các giải pháp thích hợp như: luân chuyển, đào tạo lại, bồi dưỡng  nâng cao trình độ, giải quyết chế độ nghỉ hưu trước tuổi, bố trí lại công việc phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; bổ sung kịp thời những giáo viên trẻ có đủ điều kiện và năng lực để tránh hụt hẫng.          + Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trong các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở theo hướng chuyên nghiệp hoá, và có cơ chế thay thế khi không đáp ứng được yêu cầu.          + Tiếp tục thực hiện chế độ cử tuyển đối với học sinh đúng đối tượng, và ưu tiên cử tuyển đối với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.           + Tăng cường cơ sở vật chất trường học: Trong thời gian tới Phòng Giáo dục và Đào tạo  phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng cơ sở vật chất trường học từ nhiều nguồn kinh phí, bổ sung  và mua sắm trang thiết bị bên trong, xoá các phòng học tranh tre. Xây dựng thư viện chuẩn và trường đạt chuẩn quốc gia.           2. Nhiệm vụ cụ thể:2.1. Tiếp tục thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua  "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" trong ngành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách và kỹ năng sống cho học sinh2.1. Về cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" theo Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị:Triển khai bộ tài liệu hướng dẫn lồng ghép nội dung cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" vào giảng dạy một số môn học chính khoá và các hoạt động ngoại khoá ở các cấp học.Bằng những hành động cụ thể, lập thành tích hướng tới kỷ niệm 120 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2010). Tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” với các yêu cầu: thực hiện tốt các quy định về đạo đức nhà giáo, tự học về công nghệ thông tin: ứng dụng trong soạn giảng, thực hiện bài giảng điện tử đối với một số trường học đã có điều kiện về thiết bị.2.2.Về thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục thông qua cuộc vận động "Hai không" của ngành:Hoàn thành cơ bản nội dung "Chống tiêu cực trong thi cử và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục phổ thông và mầm non" để thực hiện Chỉ thị 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục. Tập trung vào việc giảm tối thiểu tiêu cực trong thi, kiểm tra và đánh giá, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém, học sinh bỏ học. Tiếp tục cải tiến công tác thi đua, khắc phục bệnh thành tích ngay từ cơ sở trường học. Tổ chức tổng kết 4 năm thực hiện Chỉ thị 33/2006/CT-TTg vào cuối năm học.2.3.  Về phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”:  Tập trung thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau: Phối hợp giữa ngành Giáo dục với Hội Khuyến học, Hội phụ nữ và Đoàn TNCS HCM tổ chức "Tháng khuyến học" từ 02/9 đến 02/10 (Ngày khuyến học Việt Nam): Tổ chức tuyên dương các gia đình, các xã đạt danh hiệu gia đình khuyến học, xã khuyến học.Tiếp tục thực hiện cuộc vận động quyên góp quần áo, sách vở cho học sinh vùng khó khăn do Bộ GDĐT và Công đoàn GDVN phát động. Phấn đấu đến 02/10/2009  thực hiện được yêu cầu "3 đủ" đối với học sinh: "đủ ăn, đủ quần áo, đủ sách vở": Hội phụ nữ chủ trì cùng với ngành Giáo dục và phòng Lao động -TB&XH vận động chăm lo "đủ ăn"; Đoàn TNCS HCM chủ trì cùng ngành Giáo dục vận động chăm lo "đủ mặc"; ngành Giáo dục chủ trì vận động chăm lo "đủ sách vở, đồ dùng học tập" cho học sinh để không còn học sinh bỏ học vì thiếu sách vở và đồ dùng học tập, thiếu quần áo hoặc thiếu ăn.Tổ chức Lễ khai giảng năm học mới có cả phần "Lễ" và phần "Hội": tổ chức “Lễ” trang trọng, tổ chức phần “Hội” với các hoạt động văn hoá, văn nghệ, các trò chơi dân gian tươi vui, sinh động, tạo không khí phấn khởi cho học sinh bước vào năm học mới. Tổ chức việc đón học sinh vào đầu cấp (lớp 1 và lớp 6), huy động phụ huynh học sinh cùng tham gia. Hàng năm, các trường học tuyên dương, khen thưởng 01 thầy giáo và 01 cô giáo được học sinh yêu quý nhất do học sinh và các tổ chức xã hội, các cựu học sinh tôn vinh. Trên cơ sở đó, huyện sẽ tuyên dương, khen thưởng 01 thầy giáo và 01 cô giáo được học sinh yêu quý nhất.  Phấn đấu đến cuối năm học 2010 - 2011, tất cả các trường mầm non, phổ thông đều có công trình vệ sinh và thường xuyên được đảm bảo sạch sẽ (kể cả các điểm trường lẽ).  Tiếp tục triển khai phong trào trồng cây xanh phù hợp và có hiệu quả tốt cho môi trường. 100% các công trình, di tích lịch sử, văn hoá đã được xếp hạng, các nghĩa trang liệt sĩ đều được các trường phổ thông nhận chăm sóc và phát huy. Phối hợp với Đoàn TNCS HCM tổ chức và tham gia thi hát dân ca, hát về ngành giáo dục ở các cấp với sự tham gia của học sinh và giáo viên.  Tổ chức kiểm tra, đánh giá, công nhận các trường đã đăng ký và phấn đấu đạt danh hiệu “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” theo tiêu chí đã ban hành. Tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm. Triển khai thực hiện nghiêm túc công tác y tế trường học nhằm đảm bảo chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ, phòng chống dịch bệnh cho cán bộ, giáo viên, học sinh, trước mắt triển khai thực hiện tốt công tác phòng chống đại dịch cúm A (H1N1).

    3. Đổi mới quản lý giáo dục:

    3.1. Triển khai thực hiện Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15/4/2009 về hướng dẫn thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục và đào tạo để thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ. 3.2. Triển khai áp dụng chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non theo Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22/01/2008 và chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học theo Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04/5/2007. Tham gia dự thảo chuẩn giáo viên, chuẩn hiệu trưởng trường THCS và THPT và tổ chức triển khai thực hiện khi có hiệu lực. 2.3. Triển khai Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 về Quy chế thực hiện công khai đối với các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.   3.4. Trong năm 2010, tham mưu xây dựng "Quy hoạch phát triển giáo dục của huyện giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến 2020" để Hội đồng nhân dân và UBND huyện phê duyệt.3.5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục. Từng bước thực hiện quản lý nhà nước về ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo. 3.6. Tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh công tác thanh tra. Thực hiện các hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành ở các cấp học, ngành học; thanh tra, kiểm tra việc thực hiện cuộc vận động "Hai không". 2.7. Tiếp tục thực hiện phân cấp quản lý sử dụng ngân sách cho một số đơn vị trường học.4. Triển khai đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục:4.1. Duy trì kết quả và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục và chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở.4.2.Triển khai chủ động, sáng tạo sự phối hợp giữa ngành Giáo dục, Hội phụ nữ và Hội Khuyến học để mỗi gia đình và toàn xã hội quan tâm hơn nữa đến việc học tập của các em, thực hiện cho được yêu cầu "3 đủ" (học sinh đủ sách vở, đủ ăn, đủ mặc), từng bước thực hiện yêu cầu "3 biết" (gia đình biết chính sách của nhà nước đối với học sinh vùng khó khăn; học sinh lớp 9, lớp 12 biết điều kiện để đi học tiếp ở cấp cao hơn; học sinh THPT biết nhu cầu lao động ở địa phương) . 4.3.Thực hiện tốt công tác bàn giao học sinh giữa cấp Tiểu học và cấp THCS, đánh giá chất lượng học sinh đầu năm học và kế hoạch bồi dưỡng học sinh yếu từ đầu năm học.          4.4. Tiếp tục tham gia xây dựng thư viện câu hỏi kiểm tra, bài tập các môn học để giáo viên, học sinh tham khảo, sử dụng trong dạy và học, tự kiểm tra, đánh giá. 3.5. Đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy và học ở từng cấp học. Cán bộ, giáo viên tích cực sử dụng Internet để tham khảo và ứng dụng, tham gia cuộc thi làm bài giảng điện tử. 4.6. Từng bước chấm dứt việc dạy học chủ yếu qua “đọc - chép” đến năm học 2011-2012 ở cấp THCS. Mỗi giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục thực hiện một đổi mới trong phương pháp dạy học và quản lý. Mỗi trường có một kế hoạch cụ thể về đổi mới phương pháp dạy học. 3.7. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường và giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong trường học. Tăng cường dạy ngoại ngữ, tin học nhằm nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học cho học sinh. 5. Tiếp tục phát triển mạng lưới trường, lớp và tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục. 5.1. Thực hiện đúng tiến độ triển khai Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012 theo Quyết định số 20/2008/QĐ-TTg và Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và Kế hoạch của tỉnh, huyện giao. 5.2. Thực hiện kiểm tra, đánh giá chất lượng và hiệu quả khai thác sử dụng thiết bị dạy học. 5.3. Thực hiện triển khai Đề án của ngành giáo dục về phát triển giáo dục theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP.5.4. Tiếp tục xây dựng định hướng các trường mầm non, tiểu học, THCS đạt chuẩn quốc gia. Phấn đấu xây dựng trường TH Thị trấn Ba Tơ, trường TH Ba Vì, trường THCS Ba Động đạt chuẩn quốc gia trong năm học 2009-2010 và 2010-2011.5.5. Tiếp nhận và phát huy hiệu quả việc triển khai kết nối Internet Viettel đến các trường học ở những khu vực có điện lưới vào tháng 6/2010. 6. Chăm lo và đầu tư cho phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục6.1. Tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, tạo điều kiện và phát huy tính tự học, tự đào tạo của cán bộ giáo viên để nâng cao trình độ đào tạo, chuyên môn nghiệp vụ.6.2. Từng bước khắc phục việc thiếu giáo viên cục bộ ở một số trường. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên được tuyển dụng. Trên cơ sở các quy định các cấp, thực hiện tuyển dụng được các giáo viên có đạo đức và trình độ chuyên môn phù hợp cho nhu cầu phát triển giáo dục ở mỗi trường.6.3. Chuẩn hóa trong đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn và sử dụng cán bộ quản lý giáo dục:Triển khai đánh giá hiệu trưởng trường phổ thông thông qua ý kiến giáo viên. Triển khai công tác quy hoạch cán bộ theo hướng dẫn số 22-HD/BTCTW ngày 21/10/2008 của Ban Tổ chức Trung ương thực hiện Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa đất nước.6.4. Chính sách, chế độ đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục:Triển khai việc luân chuyển giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục công tác lâu năm ở những vùng khó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa về những nơi có điều kiện thuận lợi hơn.3. Giải pháp:3.1. Giáo dục mầm non (GDMN)Tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 2263/2006/QĐ-UBND ngày 28/9/2006 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, Quyết định số 1564/QĐ-UBND ngày 28/12/2006 của UBND huyện Ba Tơ. Thực hiện chương trình phổ cập mẫu giáo 5 tuổi, tập trung chuẩn bị tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số để trẻ vào học lớp 1.Triển khai đồng bộ chương trình giáo dục mầm non mới, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống dưới 0,1%. Đổi mới công tác quản lý, tăng cường thanh tra, kiểm tra. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, công tác xã hội hoá giáo dục để huy động các nguồn lực, sự tham gia của cha mẹ chăm lo cho giáo dục mầm non.3.2. Giáo dục phổ thông (GDPT)-Tiếp tục triển khai kế hoạch phát triển hệ thống trường phổ thông theo Quyết định số 24/2008/QĐ-TTg : tham mưu thành lập các trường THCS ở các xã đủ điều kiện; đổi tên Trường Tiểu học và Trung học cơ sở đối với các trường Tiểu học có lớp THCS, trường PTCS không đủ điều kiện để thành lập trường THCS. -Tiếp tục triển khai kế hoạch phát triển Trung tâm học tập cộng đồng trên 100% xã, thị trấn theo Quyết định 112/2005/QĐ-TTg. Đối với giáo dục tiểu học: Chỉ đạo dạy học theo chuẩn của chương trình. Tích hợp nội dung giáo dục đạo đức, tiếng Việt vào các môn học và hoạt động giáo dục. Chỉ đạo dạy học môn Thủ công, Kĩ thuật theo hướng điều chỉnh nội dung, kế hoạch dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. Thực hiện dạy học Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số chưa biết nói tiếng Việt (Văn bản hướng dẫnsố 7679/BGDĐT-GDTH ngày 22/8/2008). Thực hiện bàn giao kết quả học tập của học sinh lớp dưới lên lớp trên. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lí về công tác chỉ đạo và quản lí việc dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và trong dạy học.Chuẩn bị triển khai thực hiện đề án dạy học tiếng Anh ở tiểu học.

    Duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đã đạt.

    Đối với giáo dục trung học:

    Phát triển một số trường sang học 2 buổi/ngày (hoặc 6 buổi trở lên) để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.

    Chỉ đạo tích cực đổi mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học.

    Đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia.

    Duy trì kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã đạt.

    3.3. Giáo dục thường xuyên (GDTX)Đẩy mạnh các hoạt động quản lý, hoạt động chuyên môn; tích cực đổi mới phương pháp dạy học; Tích cực vận động học viên ra lớp học XMC để duy trì và nâng tỉ lệ người biết chữ từ 15 tuổi trở lên đạt 98%, riêng số người trong độ tuổi 15-35 biết chữ đạt trên 99%. Chỉ đạo 03 Trung tâm học tập cộng đồng mới thành lập đi vào hoạt động có hiệu quả.Tiếp tục chỉ đạo thành lập Trung tâm học tập cộng đồng từ 2010-2015 các xã  cho các xã còn lại. 3.4. Giáo dục dân tộcThực hiện tốt công tác báo cáo, thống kê kết quả về giáo dục dân tộc.Triển khai thực hiện kịp thời các chính sách hỗ trợ giáo viên và học sinh ở vùng dân tộc.Tham mưu các cấp triển khai các chương trình dự án, đầu tư xây dựng nhà ở bán trú cho học sinh để đảm bảo học sinh bán trú có chỗ ở an toàn.Tiếp tục các giải pháp để tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc ở mầm non, tiểu học. Trên đây là nội dung đánh giá thực trạng, tình hình và tiếp tục củng cố để phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở huyện nhà phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá, đào tạo con người toàn diện thực hiện mục tiêu “ Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài ” phát huy có hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu  phát triển kinh tế xã hội ở đia phương.Với thành quả đã đạt được trong  thời gian qua là nhờ sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Huyện uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND huyện và của Sở Giáo dục và Đào tạo. Sự tham gia hỗ trợ  tích cực của các ban, ngành, doàn thể, các tổ chức kinh tế xã hội và của nhân dân.  Song sự thành công của giáo dục và đào tạo huyện trong  thời gian qua, cũng là kết quả của một sức mạnh tổng hợp giũa sức lực và trí tuệ  mà ngành đã tập hợp được để tập trung vào những việc then chốt và vào từng thời điểm để làm có hiệu quả cao nhất. với thành tích khiêm tốn đó đã được UBND huyện, UBND tỉnh, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các tổ chức công đoàn các cấp tặng thưởng nhiều Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, Chiến sĩ thi đua các cấp, Bằng khen, giấy khen cho nhiều tập thể và cá nhân./.                                                                   
    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Ngọc Tồn @ 19:58 15/04/2010
    Số lượt xem: 438
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    HÌNH ẢNH