Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Dạy học tích hợp lồng ghép GDBVMT vào Sinh học 9

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Mậu Hải
    Ngày gửi: 22h:08' 29-05-2010
    Dung lượng: 3.8 MB
    Số lượt tải: 25
    Số lượt thích: 0 người
    
    1. Cơ sở lí luận
    Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại. Bảo vệ môi trường nói chung và giáo dục về bảo vệ môi trường nói riêng đã được Đảng, Nhà nước quan tâm từ nhiều năm nay và đã có một số chủ trương, biện pháp giải quyết các vấn đề nói trên. Giáo dục bảo vệ môi trường được đưa vào chương trình giảng dạy bậc trung học cơ sở với hình thức lồng ghép, tích hợp.
    Trong những năm qua, thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước; Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án "Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân"; Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; đặc biệt Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước.
    Bảo vệ môi trường là mục tiêu, là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, dự án phát triển kinh tế- xã hội của từng ngành, từng địa phương. Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người.
    Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ phức tạp, cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Đảng, quyền lực của Nhà nước, sự tham gia tích cực của nhân dân.
    2. Cơ sở thực tiễn
    2.1.Trên phương diện toàn cầu.
    Các hoạt động của con người đã và đang thải vào môi trường không khí một khối lượng các khí độc hại khổng lồ (như CO, CO2, CFC2...) gây nên hiệu ứng nhà kính, làm biến đổi khí hậu, nguyên nhân của hiện tượng nóng lên của trái đất và sự suy giảm tầng ôzôn.
    Nhu cầu sử dụng nước tăng lên 6 lần trong thế kỷ qua và còn tiếp tục tăng nữa. Do vậy làm cho nguồn nước trở nên khan hiếm. Một phần ba dân số thế giới sống trên các quốc gia thiếu nước.
    Theo đánh giá của các nhà khoa học trên thế giới thì hơn 2/3 các loài động- thực vật trên hành tinh có thể đã bị mất trong 100 năm qua. Các lỗ thủng lớn trong mắt xích của sự sống đang ngày một gia tăng và vô số cá loài được dùng cho việc cung cấp thức ăn và dược liệu đã bị mất đi. .
    Theo kinh nghiệm quá khứ cho thấy, đối với một hành tinh, để phục hồi lại sự đa dạng đó phải cần 10 triệu năm. 4/5 diện tích rừng nguyên sinh của trái đất bị chặt phá, xâm hại, phân cắt, thu hẹp hoặc suy thoái. Khoảng 16 triệu ha rừng đã bị mất mỗi năm. Hậu quả của nó tới môi trường là rất to lớn như gây xói mòn, rửa trôi, lũ lụt .
    Phải hàng ngàn năm mới có thể hình thành vài centimet(cm) lớp đất mặt, nhưng chỉ cần một vài năm mưa là có thể rửa trôi lớp đất này. Mỗi năm thế giới mất đi 25 tỉ tấn đất mặt. Khoảng 2 tỉ ha đất canh tác và đồng cỏ trên toàn thế giới đã bị suy thoái từ trung bình đến nghiêm trọng.
    2.2. Tình hình môi trường ở Việt Nam
    Không thể tách khỏi tình trạng chung của toàn cầu, các thành phần môi trường Việt Nam nhìn chung đã bị ô nhiễm hoặc suy thoái, có nơi hết sức nặng nề.
    Việt Nam có diện tích tự nhiên 33.169.000 ha. Đất đồng bằng gồm 7 triệu ha, trong đó 3,8 triệu ha "đất có vấn đề". Đất dốc khoảng 25 triệu ha, trong đó hơn 13 triệu ha đất thoái hóa nghiêm trọng. Như vậy diện tích đất có vấn đề về độ phì và sức sản xuất kém chiếm trên 50 % diện tích tự nhiên cả nước.
    Việt Nam là quốc gia giàu tài nguyên nước trong khu vực, nhưng so sánh chung toàn thế giới chưa phải quốc gia giàu tài nguyên nước.
    Nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp xả trực tiếp vào hệ thống sông đã làm cho các con sông này ô nhiễm cục bộ nghiêm trọng (như vụ Vê đan làm ô nhiễm sông Thị Vải...).
    Do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng bị tàn phá mạnh trong thời gian qua. Rừng tự nhiên mất trung bình mỗi năm từ 120.000 ha đến 150.000 ha, rừng trồng
     
    Gửi ý kiến

    HÌNH ẢNH